Hội Đồng Hương Thái Bình - Houston

Hồi Ức Quê Nhà
Soan Phi


Tôi phải bắt đầu từ đâu nhỉ? Hình như từ một điểm chấm phá rất nhỏ của thời thơ ấu… Ngày ấy, gia đình tôi theo dòng người di cư vào Nam để lại trên đất Bắc ông bà ngoại, các bác các cô chú cùng họ hàng thân thích với bao thương nhớ chập chùng…Tôi vẫn nhớ mãi những thổn thức của mẹ tôi và những mẫu chuyện mà anh em chúng tôi đã được nghe bà kể không biết đến bao nhiêu lần về quê nhà miền Bắc xa xôi của chúng tôi.

Sinh truởng trong một gia đình nho, ông ngoại tôi suốt cuộc đời vừa đi dạy học vừa hốt thuốc chữa bịnh cho người nghèo. Ông nội tôi rất giàu có, là một trong những người sáng lâp Nhà máy sợi Nam Định và có nhiều cổ phần trong nhà băng Indochinoise. Cụ nhiều vợ và nhiều dòng con phải kể tuy là con cầu tự nhưng bố tôi là vai trưởng trong gia đình. Năm bố tôi mười một tuổi, ông nội tôi bạo bệnh qua đời, bố tôi được gửi vào hoc nội trú Sainthomas. Sớm ảnh hưởng nền văn minh Tây học, ông đã tham gia hoat động của phong trào Hướng đạo Việt nam ngay từ những ngày đầu hội mới thành lập. Năm 1942, bố tôi đã đạp xe đạp vòng quanh Đông Dương, ông được cấp bằng Hiệp sỹ ở trại Bạch Mã và kể từ đó ông đã hành trang vào đời với trái tim nhiệt thành của một người Hướng đạo sinh yêu nước, bố tôi đã theo Việt Minh tham gia kháng chiến chống Pháp.

Bố mẹ tôi lập gia đình hồi ông bà còn rất trẻ. Ngày ấy mẹ tôi vừa mười sáu, bà xinh đẹp nổi tiếng ở phố Khách Nam Đinh. Nhà ông bà ngoại tôi là hiệu thuốc Bắc Lợi ký, nếu ai đã từng ở Nam Định hẵn đều biết tên. Mười ba tuổi, mẹ tôi đã theo phong trào đợt sống mới cắt tóc phi dê, mặc áo dài nhung, quần lĩnh trắng, đeo vòng kiềng…. Mẹ tôi được đi học trường ma soeur rất kỷ luật, quy củ và nề nếp. Mỗi kỳ nghỉ hè mẹ tôi đều được đi chơi bãi biển Sầm Sơn hay xuống Hải Phòng ở nhà của cụ Hai là chị của bà ngoại cả mùa hè để học buôn học bán. Me tôi vẫn nhắc hoài về những gánh hàng xén gồm những món quà mà tuổi thơ trẻ con nào cùng rất yêu thích nào là gương, lược, nơ, kẹp tóc, guốc mộc và cả những con giống đủ các lọai súc vật với nhiều màu sắc đẹp mắt. Khi mẹ tôi đến tuổi cập kê được ông bà ngoại cho ra trông cửa hàng, chiều nào đám học trò con trai vẫn hay dập dìu qua lại. Một lần bố tôi đã bị hai anh bạn học bế tung vào cửa hàng ngã lăn quay bổ ngửa thế là bố mẹ tôi đã phải lòng nhau từ đấy. Đám cưới của bố mẹ tôi hẳn là lớn lắm vì cả hai bên đều là gia đình bề thế.

Nhưng ngày vui và hạnh phúc của bố mẹ tôi thật ngắn ngủi vì chiến tranh đã đổ tới, bố tôi theo tiếng gọi thanh niên đã lên đừơng đi làm cách mạng. Mẹ tôi theo ông bà ngoại tản cư về phủ Nghĩa Hưng. Lúc này một nách bà đã có ba con. Chị cả Hoàng Yến mới lên ba tuổi, mẹ tôi bảo chị xinh như một thiên thần. Mỗì lần bị anh Đạo nắm tóc ăn hiếp chị chỉ nước mắt vòng quanh ngọng ngịu mách mẹ ơi thằng Đạo cắn con. Anh Hưng lúc bấy giờ mẹ tôi vẫn còn bế trên tay. Một lần, chị Yến mới lên ba chị vú em lỡ tay làm chị Yến té xuống ao nhưng cả nhà rất kinh ngạc vì chị không bị chìm mà lại nổi bồng bềnh trên mặt nước. Rồi toàn quốc kháng chiến với tuần lễ vàng với tiêu thổ kháng chiến và chiến tranh đã cướp đi bác Hiệp, một người anh cả của mẹ tôi, vì chạy tản cư không có đủ thuốc trụ sinh nên đã không cứu kịp chị Yến, căn bịnh yết hầu đã cướp đi người chị cả thân yêu của chúng tôi. Mẹ tôi kể chị Yến mất đi ngày ấy là một nỗi đau lớn của bố mẹ tôi thời son trẻ. Từ ấy, bố mẹ tôi nhất định sẽ không bao giờ đặt tên con gái là tên các loài chim chóc nữa vì sợ con mình sẽ bay đi mất như cánh chim hoàng yến và bù lại để bảo vệ cho đàn con thân yêu bố mẹ tôi đã đặt tên các con gái của mình là phải có chữ Bảo cũng là tên lót cua bố tôi như một cách để bảo vệ gìn giữ chúng tôi.

Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, từ thành thị đến thôn quê nơi nào có dấu giầy của thực dân Pháp đi qua là nơi đó đầy những dấu tích của đổ nát hoang tàn. Cùng với biết bao tài sản của bố mẹ tôi, của đồng bào tôi đà cúng cho chính phủ Việt Minh lúc đó với chiêu bài đánh đuổi thực dân Pháp giành tự do độc lập cho đất nước. Nhưng đó chỉ là giấc mơ vì ngày ấy hẳn còn xa lắm, chín năm bồng bế lũ con thơ, bỏ nhà bỏ cửa chạy tản cư. Bây giờ bố mẹ tôi đã có thêm anh Cừ, chị Bích. Mẹ tôi kể về những nỗi sợ hãi của những lần giặc Pháp càn quét xóm làng, mẹ ngồi ôm chặt đàn con dại vào lòng chỉ sợ mọi hiểm nguy bất trắc có thể đổ xuống mái đầu của các con thơ. Có một thời gian gia đình tôi theo ông ngoại vào tận Khu Tư nhưng được không lâu mẹ tôi quyết định dắt dìu bầy con trốn trở lại thành trên một chiếc thuyền tam bản trong một đêm tối trời, sương mù phủ dầy đặc. Khi qua đồn canh của giặc tất cả mọi người già trẻ lớn bé đều nín thở hồi hộp vì phải giữ im lặng, không một tiếng động nhỏ, nhất là tiếng con nít khóc. Trong bóng đêm, mẹ tôi quơ tay đếm cho đủ năm mái đầu của từng đứa con thì bà mới yên tâm. Một ngày cuối thu, bố tôi lặn lội từ chiến trường xa trở về, trên người ông bộ quần áo kaki rách tả tơi, máu me đầm đìa. Me tôi bảo rằng nếu ngày ấy bố tôi không về thì chăc là bố tôi phải bỏ xác lại nơi chiến trường và chúng tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn bố nữa.

***

Năm 1954 theo làn sóng di cư vào Nam, bố mẹ tôi bồng bế đưa các anh chi tôi vào Sài Gòn. Đêm cuối cùng gia đình tôi lên Hà Nội. Hà nộị đêm ấy không khí thật lạ lùng không sao diễn tả được nỗi lòng của người sắp phải xa lìa nơi quê cha đất tổ mà không biết đến bao giờ mới được trở lại… Cả Hà Nội đêm ấy dường như không ai ngủ được, đêm đã khuya lắm mà vẫn còn đông người từ các nơi đổ về, họ bồng bế gồng gánh mang theo những gì quý giá, thân thuộc nhất của họ từ cái lu to tướng đến những cái nồi, cái chõ đen nhẽm…

Hai bà cô em mẹ tôi cùng ông bà ngoại đã bị kẹt lại Nam Định đã phải chứng kiến cảnh Việt Minh về tiến hành cải cách ruộng đất. Từ trong nhà ra đến đầu ngõ, cờ đỏ treo khắp phố cả miền Bắc bị nhận chìm trong biển máu của cuộc đấu tố. Hai bà cô tôi kể khi mọi người đã đi hết thì các thành phần vô sản bần cố nông nổi dậy nắm chính quyền. Con sen, thằng ở, trong nhà ông bà ngoại tôi giờ đây đã ra mặt tố khổ hành hạ đủ điều, cơm không được ăn ngon, áo không được mặc đẹp, nếu có gì ngon một tí thì phải khéo che đậy, dấu diếm. Đêm nào hai bà cô cũng bi lôi ra khu phố để phê bình kiểm thảo vì cái tội con nhà địa chủ tư sản. Chỉ ở lại sau hai tuần hai bà cô tôi chịu không nổi đã phải bỏ trốn lên Hà Nội xuống tàu há mồm vào Nam tìm con đường sống…

Hai năm sau ngày di cư vào Nam, mẹ tôi đã sinh tôi ra giữa lòng Sài Gòn ở khu phố Richeau đông đúc người Bắc di cư sinh sống. Nơi đây bố tôi tham gia Tổng ủy di cư và ông tiếp tục làm việc cho chính quyền Nguyễn Văn Thinh. Sài Gòn đúng là hòn ngọc Viễn Đông. Một vùng đất thật trù phú với những xe lô, hàng qúan, chợ búa, hàng hóa trái cây thực phẩm tràn ngập… Mặc dù con người, tiếng nói, lối sống thiệt thà chân chất của người miền Nam còn rất lạ lẫm với chúng tôi, nhưng mảnh đất này như chất chứa một sức sống mãnh liệt đã luôn cuốn hút và rộng mở vòng tay đón nhận những đứa con xa xứ…

Sau đó bố mẹ tôi đã dọn về khu ngoại ô Gia Định, đó là một ngôi nhà lớn được xây theo kiểu tàu nằm ngay dưới dốc chân cầu Băng Ky, xung quanh là vườn cây um tùm. Lúc này tôi đã là đứa con thứ chín, sau tôi còn thêm ba cậu em trai tôi nữa. Mẹ tôi đã mười bốn lần sinh đẻ nhưng bà lúc nào cũng giữ nguyên vẻ son sắt mặn mà của ngươi con gái Nam Định năm xưa. Hiện nay gia đình tôi chỉ còn mười một anh ẹm. Gia đình đông con hẳn là bố mẹ tôi đã phải vất vả lắm để nuôi dạy chúng tôi nên người. Đây là quãng đời thơ ấu đẹp nhất của tôi lúc còn ở quê nhà. Tôi còn nhớ mãi từng kỷ niệm nơi căn nhà mà ba mươi tám năm tôi được chung sống và lớn lên với đầy đủ bố mẹ anh chị em quây quần bên nhau.

Những ngày mưa lũ, nước thường tràn vào nhà bọn con nít chúng tôi được nghỉ học tha hồ được nghịch phá… Chúng tôi thả những chiếc thuyền giấy trôi bập bênh trên dòng nước. Những lúc đó bố tôi thường ngồi đọc báo hay ông đang lắng tai nghe tin tức chiến sự từ một chiếc radio. Mẹ tôi và chị Bích tôi thì đang thổi cơm từ một cái bếp lò dã chiến, hai bàn tay của mẹ tôi đen nhám vì ám than củi để chúng tôi lúc nào cũng có những bữa cơm nóng canh sốt…

Hôm thì mẹ tôi xào rau muống với thịt bò canh dưa chua mà tôi thích nhất là món chả trứng Nam Định, một món ăn dân dã bình dị mà cho đến giờ tôi vẫn không quên được cái dư âm cắn một miếng chả đã thấy ngập miệng, cái vị béo béo dòn dòn của thịt băm trộn lẫn mỡ khổ… Những ngày trời mưa không đi chợ đươc thì mẹ lại sai anh tôi bắt con vịt nhà vặt lông làm món vịt luộc giấm ghém ăn với hoa chuối chan với nắm tôm dầm chanh đường rồi cả nhà cùng sì sụp xơi. Đã hơn năm mươi năm qua rồi mà tôi vẫn nhớ như in những hương vị đậm đà đặc biệt không nơi nào có như những bữa cơm từ bàn tay của mẹ tôi nấu…

Những đêm tắt điện tối trời chúng tôi bắc ghế ra sân dưới bầu trời đầy trăng sao chúng tôi ngồi xúm xít quanh mẹ để nghe bà kể chuyện ngày xưa… Những câu chuyện về cuộc đời của mẹ tôi như một pho tiểu thuyết sống động của người mẹ Việt Nam suốt cả cuộc đời đã hy sinh tận tụy vì chồng vì con, tôi đã được nghe mẹ tôi kể đi kể lại suốt cả một thời thơ ấu và những câu chuyện đó đã hành trang đi theo tôi vào cuộc đời…

Lớp vỡ lòng nơi tôi đã được cô giáo tập đọc tập viết chữ i chữ tờ là ngôi nhà cổ kính có những lùm cây ăn trái xum xuê nằm bên cạnh một bờ sông với những ao rau muống chen chúc trong những đám lục bình nở rộ hoa tím. Giờ ra chơi là một hồi kẻng thường bị át đi vì tiếng động của một xưởng cưa gỗ ở gần đó cứ rền rỉ âm vang đi cả vào giấc ngủ tuổi thơ của tôi suốt bao năm trời.

Trước cửa nhà tôi hồi ấy là Quốc lộ số 1, sau là đường Nguyễn Văn Học, mỗi sáng khi trời còn tối đen như mực tôi đã theo chân chị Bích đón xe đò đi học, ắt hẳn vì tôi còn bé lắm nên các chú lơ xe thường nhấc bổng tôi lên và không lấy tiền của tôi. Mới bé tí mà tôi đã sớm hiểu được tình đồng loại và sự chia xẻ. Trò chơi mà tôi thích nhất ngày ấy là thả diều. Vào những buổi chiều trời lộng gió tôi theo mấy đứa em trai chạy khắp xóm để thả những con diều đủ màu sắc mà tôi đã phải cặm cụi cắt giấy,vót tre làm cả buổi trời mới xong. Khi cánh diều đã bay xa tận tít chân trời, chúng tôi thường mãi mê nhìn theo cho đến khi trời tối mịt, có lúc gió thổi mạnh diều căng nặng tay và bứt dây bay mất trên bầu trời ngã sậm màu bóng chiều tà. Tôi về nhà với tâm trạng thẩn thờ như vừa mất mát cái gì đó rất thân yêu.

Ký ức tôi còn in đậm những kỷ niệm về mùa khai trường, bố mẹ tôi thường đưa chúng tôi đi mua sắm tập vở, cặp sách. Tôi vẫn thường mê man hít ngửi cái mùi thơm của tập vở mới rồi tự tay mình bao bìa dán nhãn để ngày mai hân hoan đến trường đón chào năm học mới.

Hồi ấy bố tôi đã chuyển sang làm nghề giới thiệu thuốc cho một hãng bào chế thuốc Tây nên bố mẹ tôi có môt chiếc xe ô tô lớn để chở hàng và chở chúng tôi đi chơi vào những ngày nghỉ. Đến Trung Thu chúng tôi ríu rít được bố mẹ chở lên Chợ Lớn đế mua lồng đèn, đầu lân, ông địa… Chúng tôi đã ngắm nhìn không chán mắt nhũng chiếc lồng đèn đủ các màu sắc và đủ các hình thù con thú… Dưới ánh trăng vàng vằng vặc hòa cùng đám con nít của cả khu xóm chúng tôi sung sướng cầm đèn trên tay lũ lượt đi rước khắp phố phường.

Rồi những ngày Tết Nguyên Đán với đầy đủ hương vị cổ truyền Việt Nam. Năm nào nhà tôi cũng có những đòn bánh trưng xanh do chính tay bố tôi gói thật đẹp vào đêm ba mươi tết, tôi cùng bố, anh Nghĩa ngồi canh bánh chín. Đến nửa đêm thì mẹ tôi sửa sọan cúng giao thừa là lúc cả nhà cùng thức dậy ăn mặc chỉnh tề ra mừng tuổi bố mẹ và nhận những đồng tiền lì xì mới với những cái phong bao đỏ. Trong tiếng pháo ròn rả của mọi nhà để mừng năm mới, tôi xúng xính trong những bộ quần áo còn thơm mùi mới,tôi như cảm nhận được cái không khí Tết thật đầm ấm, thiêng liêng vô cùng.

Và cứ như thế năm tháng đi qua tôi đã lớn lên trong vòng tay yêu thương bão bọc của gia đình. Tôi cũng đã lớn lên theo chiều dài năm tháng của cuộc chiến hai miền Nam Bắc. Bố mẹ tôi đã phải lần lựơt tiễn đưa các anh của tôi vào quân ngũ, chiến tranh ngày một leo thang quân đội Mỹ và đồng minh bắt đầu đổ bộ vào Việt Nam. Trong ký ức nhạt nhòa tôi còn nhớ mãi hình ảnh những người lính Mỹ ôm súng trên những chiếc xe GMC chạy qua cầu thấy bọn trẻ nhỏ thì họ quăng cho chúng tôi những thanh kẹo cao su, chocola…

Ngày ấy, cả khu xóm tôi chỉ có một nhà có một máy truyền hình, với tôi là cả thế giới lạ lùng và thu hút nên thỉnh thỏang tôi vẫn trốn mẹ sang coi cọp nhà hàng xóm… Đau khổ nhất là lúc tôi đi thi vào đệ thất trường Gia Long thì bài luận văn của tôi trúng ngay cái đề bài em hãy tường thuật lại một chương trình ti vi mà em yêu thích nhất. Thế là tôi đành ngồi cắn bút chịu trận. Đây cũng là lần thất bại đầu tiên trong thời thơ ấu của tội.

***

Tết Mậu Thân tôi vừa tròn mười hai tuội. Mùng hai cả nhà vừa đi chúc Tết họ hàng về. Trời chiều sập tối, chúng tôi đã nghe có tiếng súng nổ lẫn trong tiếng pháo đì đạch, rồi có lịnh giới nghiêm cả thành phố vắng tanh không một ai được ra khỏi nhà… Tiếng súng lại càng vang dội ngay giữa đường phố ngày một lớn hơn. Chiến tranh đã đến tận Sài Gòn rồi. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã mau chóng tập hợp lực lượng để phản công và dập tan âm mưu tấn chiếm thành phố của Việt Cộng. Nhà tôi nằm lọt vào khu chiến sự nên các binh sĩ đặt lô cốt ngay trong nhà tôi.

Bố mẹ tôi quyết định phải tản cư khỏi vùng chiến sự. Bố tôi đã giăng ở đầu xe một lá cờ trắng có dấu chữ thập đỏ để đưa chúng tôi cùng tất cả những tài sản quí giá nhất để chạy vào trung tâm thành phố. Tôi nhìn lại ngôi nhà thân yêu bị bỏ lại phía sau với nỗi ngậm ngùi trẻ thơ, mới hôm qua còn rộn rã không khí Tết với những phong pháo, những chậu hoa mai vàng chưa kịp nở mà hôm nay đã là binh đao khói lửa. Xe chạy qua các trại tạm cư trường học đều chật kín người, cả nhà tôi lên ở nhờ bác tôi tận chung cư Nguyễn Huệ. Trên tầng lầu chín, mỗi tối tôi ra ban công nhìn về phía chân trời xa nơi vẫn có những đốm hỏa châu rực sáng. Đâu đó vẫn có khói lửa ngập tràn cả một vùng trời… Tôi lắng nghe tiếng hát của một ca sĩ từ ngôi nhà bên dưới văng vẳng vọng lên. Mẹ Việt Nam ơi bao giờ quê hương tôi mới được thanh bình. Tất cả đã là một dấu ấn buồn trong tâm hồn thơ dại của tôi lúc bấy giờ…

Tám năm cắp sách dưới ngôi trường trung tiểu học Thánh Mẫu Gia Định, tôi đã dần lớn khôn trong sự dạy dỗ thương yêu của các thầy cô,của ngôi trường nhà thờ với mái thánh đường cổ kính chiều chiều vẫn vang lên lời kinh cầu cao vút… Tôi không thể quên được những kỷ niệm của một thời học trò áo trắng từ lớp thất 11 với những Võ thị Anh Đào nhí nhảnh hồn nhiên, Ngọc Phượng với nụ cười vói hai núm đồng tiền và đăc biệt là cô giáo Thu Phương với mối tình học trò thật đep của tôi suốt bao năm tháng… Rồi đến năm tôi học lớp tám với những khuôn mặt của một thời ngựa chứng sân trường Xuân Mai, Kim Phấn, Thu Ha Đào… Bé bỏng thế thôi mà chúng tôi đã làm được những tờ tập san quay roneo đòi dân chủ, tư do, cải cách đường lối giáo điều của trường học nhà thờ…

Và những năm sau đó, chúng tôi lớn lên trong tình hình chiến tranh ngày một sôi động, tôi vẫn hay đứng ở hành lang lớp học trông vời về phía trời xa thẳm dường như ở đó lời giảng bài của cô Tường Vính, thầy Hoàng Xuân Thiệu, cô Ngọc Diệp vẫn còn vang vọng bên tai tôi…về thân phân của một nước nhược tiểu về những nghịch lý của cuộc chiến tranh ý thức hê…

***

Năm tôi học lớp 12 là năm xảy ra biến cố 30 Tháng 4 đen. Sài Gòn thất thủ, người Mỳ đã quay lưng với cuộc chiến tranh Viêt Nam. Họ cắt viện trợ, rút quân về nước, bỏ rơi quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Bắc việt đã xua quân cưỡng chiếm miền Nam.

Tôi còn nhớ, sáng ngày 29 tháng 4 khi lên chợ Bà Chiểu thì tôi gặp Thu Hà, cô bạn thân chung nhóm quậy ngày xưa của chúng tôi, tôi chỉ kịp nghe tiếng gọi lớn Bảo Soan ơi, Hà đi Mỹ đây, bố Hà là pilot sẽ đưa cả nhà đi… rồi bạn tôi khuất trong đám đông của dòng người xuôi ngược. Đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp cô bạn nhỏ cho đến giờ đã hơn ba chục năm qua mà tôi cũng chưa từng được gặp lại.

Tối 29 tháng 4 bố mẹ tôi bảo anh Đạo chở năm đứa nhỏ chúng tôi sang nhà cậu mợ Đàm ở đường Chi Lăng gần phi trường để xin tá túc với hy vọng nếu gia đình cậu đi thì chúng tôi đi cùng. Mặc dù trước đó chị Bích tôi lấy chồng hải quân đóng ở đảo Phú Quốc đã cho chú lính về để đưa chung tôi đi. Mẹ tôi đã sắp sẵn tiền bạc và vali cho mỗi đứa nhưng vì sợ lọan lạc, chúng tôi thì lại còn quá nhỏ, các anh tôi đi lính còn kẹt lại chưa ai chạy về kịp, cuối cùng chúng tôi đều lùng nhùng ở lại cả.

Đêm đó, đêm cuối cùng của Sài Gòn, đài phát thanh và đài truyền hình đã bỏ ngõ chỉ phát lên những bài hát tôi nghe buồn não nuôt… Gia dình ông cậu tôi sau khi theo đoàn người chen chúc di tản chạy từ miền Trung về gặp biết bao cảnh tượng hãi hùng nên đã quyết định ở lại không đi đâu nữa. Nằm dưới gầm bàn làm căn hầm dã chiến không ngủ được, thao thức mãi tôi mường tượng dường như có điều chẳng lành sắp xảy ra tôi lắng nghe tiếng xe cộ ầm ầm chở người di tản chạy về phía phi trường, và tôi ngủ thiếp đi trong tiếng rì rầm của những chiếc máy bay cất cánh suốt đêm hôm ấy…

11 giờ sáng 30 tháng 4, sau khi nghe lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương Văn Minh, trên con đường theo ông anh trở về nhà. Tôi bàng hoàng mục kích cảnh tượng ngày tàn của một đất nước, quần áo, ba lô giầy dép, súng ống vương vãi đầy trên mặt đường… Mọi người nhìn nhau ngơ ngác, buồn vui chen lẫn sợ hãi như vừa phải rơi vào một cõi hỗn mang… Tiếng súng đâu đó còn vọng lại… Bầu trời nặng trĩu những đám mây xám xịt cũng như tâm hồn tôi đang trĩu nặng một nỗi đau của sự mất mát.

Khi về đến đầu cầu Băng Ky, lần đầu tiên tôi trông thấy những người bộ đội Bắc Việt cùng đoàn xe tăng đang từ từ tiến vào thành phố. Dưới chiếc nón cối tôi nhìn thấy họ hình như còn rất trẻ, cùng một dòng máu đỏ da vàng, cùng một thời tuổi trẻ với bầu nhiệt huyết nhưng bây giờ họ là kẻ chiến thắng và tôi vô hình chung đứng về phía những người chiến bại, những người thuộc chế độ cũ, những thành phần giai cấp tiểu tư sản thiếu giác ngộ cách mạng… vv… và vv…

Mặc dù lúc đó tôi chưa rời nhà trường, chưa hề bước chân vào đời, tuổi trẻ của tôi như trang giấy trắng chưa hề có một tì vết, nhưng lúc này là lúc tôi bị giao động cùng cực giữa trắng đen. Thực hư… cái gì là chân lý, cái gì là thiện mỹ…

Chỉ sau một đêm thức dậy cả một chính thể bị sụp đổ, cả một quân đội bị tan rã, cả một xã hội bị đảo ngược và cả con người cùng phải bi gột rữa tẩy não… Và người Cộng Sản huyênh hoang với tất cả từ ngữ đẹp nhất, nào là chuyên chính vô sản, làm chủ đất nước, cơm no áo ấm, công bằng hạnh phúc, độc lập tự do, liêm chính chí công, đầy tớ của nhân dân … vv và vv… Tất cả chỉ là những khẩu hiệu vô nghĩa bao hàm sự lừa mị, gian dối và xảo quyêt… Nhưng cái đau khổ nhất là chính bản thân tôi và nhiều người Sài Gòn lúc đó cũng đà bị cuốn vào vòng xóay của cái cỗ xe giết người khổng lồ đó mà không hề hay biết… Và cứ như thế tôi đã sống với nguời Cộng Sản đã gần hai mươi năm. Hai mươi năm tưởng là đã nhuộm đỏ mình theo màu cờ máu, tưởng là tôi đã chôn kín cái lý lịch bị bôi đen vì có ba người anh học tập cải tạo và hai người thân ở nước ngoài.

Tên chủ tịch phường lúc đó là một tay nằm vùng đã từng ăn dầm trong nhà tôi, với cái nghề thợ mộc, bố mẹ tôi đã giúp đỡ hắn lúc sa cơ lỡ vận nhưng khi trời sập 30 Tháng 4 lên nắm quyền thế trong tay. Hắn quay đầu lại trù dập gia đình tôi, mỗi lần tôi lên phường làm giấy tờ là trái tim tôi muốn vỡ ra vì sợ hãi và tức giận… Hắn đã thẳng tay phê phán vào tờ lý lich xin thi vào đại học của tôi với nguyên văn là gia đình tôi thuộc thành phần di cư cần đi vùng kinh tế mới, bản thân chưa có tinh thần yêu lao động và nặng đầu óc tiểu tư sản, xa rời quần chúng cần phải đi thanh niên xung phong…

Tôi đã vò nát những tờ lý lịch đó cũng như đã quăng vào sọt rác cái ước mơ đầu đời bé nhỏ… Từ nay cổng trường đại học vĩnh viễn khép chặt cánh cửa, tôi bị vứt vào cuộc đời để lăn lộn kiếm sống. Trong ba năm thi rớt đại học, lại không xin vào công ty, xí nghiệp nào được, để yên thân tôi vào phường tham gia phong trào xóa nạn mù chữ và dạy bổ túc văn hóa cho những trẻ em nghèo thất học cùng những người già mù chữ. Đây là thời gian tôi được gần gũi và phục vu cho đồng bào nghèo khổ của mình… Tuy làm việc không lương nhưng với tôi đây là niềm hạnh phúc lớn vì mình còn được làm việc, còn được cái giá trị là con người hữu ích…

Thời gian này các anh tôi đều đi tù trong những trại cải tạo, bố mẹ tôi lại phải chắt bóp từng gói đường, thịt rang, mắm khô, thuốc men để lặn lội đi thăm nuôi. Anh Hưng lúc đầu ở Suối Máu, Long Khánh, sau bị đổi ra tận Vĩnh Phú. Còn anh Nghĩa bị kẹt lại là hàng binh trước 75, anh bị đi tù tận Quảng Trị -Thừa Thiên… Bố mẹ tôi cũng phải gồng gánh lội mấy cánh đồi trọc để tiếp tế nuôi con… Ôi còn đau khổ nào bằng…

Mấy năm sau đó nhờ bác Hào là anh của mẹ tôi là cán bộ ở ngoài Bắc vào làm giấy bảo lãnh và có anh Hoàn cũng là giáo viên đưa tôi vào học Trung học Sư phạm để ra đi dạy học. Mở đầu một khúc quanh mới của đời tôi. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với cái gọi là nhà trường xã hội chủ nghĩa, các thầy cô miền Bắc rất nhiệt thành, nhưng cũng rất khuôn khổ với một chương trình học nhồi sọ sặc mùi tuyên truyền chính trị… Nào là chủ nghĩa vô sản sẽ là đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản… Văn học thì chỉ được học Tố Hữu với "từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim "… Nhưng lý thuyết chỉ là một màu chì xám xịt, mà thực tiễn mới là một cây đời mãi mãi xanh tươi… Trong trí óc non nớt và ngây thơ của tôi ngày ấy cái gì cũng qúa đẹp qúa hay, tôi đã ngưỡng mộ cái lý tưởng sống vì mọi người rồi tôi tâm niệm mình sẽ đi theo lối sống đó cho đến mãi về sau này tôi mới thấu hiểu được hết đươc cái cốt lõi đích thực của người Cộng Sản. Tất cả chỉ là sự giả trá khéo che đậy, sự phỉnh lừa lấp liếm của chế độ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thật là tội nghiệp cho tuổi trẻ sinh lầm thế kỷ của chúng tôi, một thế hệ chịu nhiều thiệt thòi và mất mát…

Biết bao mồ hôi đã đổ xuống những công trường, nông trường xa xôi, những lần đi lao động ngâm người dưới những sình lầy, tôi tự hỏi tôi là ai? Tôi đang đi về đâu? Tôi phải làm gì cho tôi được sống hữu ích để được chia gánh nặng trên đôi vai gầy của bố mẹ tôi đã vất vả hy sinh quá nhiều cho chúng tôi có được hôm nay… Cứ mỗi lần nhắm mắt lại tôi lại thấy hình ảnh bố tôi khuôn mặt sạm đen vì nắng cháy, đang oằn mình trên chiếc xe đạp vượt dốc cầu khi thì chở mẹ tôi đi chợ, lúc thì chở người chị dâu bụng mang dạ chửa đi nhà thương vì đã đến ngày sinh nở… Gia đình tôi vẫn sống quây quần bên nhau, mẹ tôi vẫn thức khuya dậy sớm, có rau ăn rau có cháo ăn cháo, vẫn bếp ăn tập thể với từng khẩu phần chắt chiu cho chồng con… Bàn tay của mẹ tôi lại thêm chai sần vì cuộc sống cần lao, vất vả…

Lúc này tôi đã ra đi dạy với một đồng lương giáo viên thật khiêm tốn, trong vòng gần mười năm đi dạy với một tấm lòng yêu nghề, yêu trẻ, tôi đã có biết bao lớp học trò thân thương. Đây chính là niềm an ủi vô biên mà thượng đế đã ban phát cho tôi… và cứ như thế tuổi trẻ của tôi đã trôi qua phẳng lặng và buồn tênh như mặt nước của dòng sông cạnh ngôi nhà tôi ở…

Dòng sông mang theo những hoài niệm thưở ấu thơ và cả những ước mơ thầm kín của một thời con gái…

Houston 19-4-2011