Hội Đồng Hương Thái Bình - Houston

Một Lần Về Thăm
Soan Phi, 17.3.2011


Thái Bình, tên goi của một dải đất nằm bên bờ sông Hồng của miền Bắc xa xôi bỗng như trở nên thật gần gũi và thân thương đối với tôi từ ngày theo chân ông xã về thăm quê chồng tôi tận làng Thượng Tầm tỉnh Thái Bình.

Mới đó mà đã hơn mười năm, đó là mùa hè năm 1999, lần đầu tiên sau nhiều năm xa cách tôi trở về Việt Nam trên một chuyến bay dài mười mấy tiếng đồng hồ. Chúng tôi quyết định về Bắc thăm quê cha đất tổ trước rồi sau đó mới về thăm lại Saigon. Vừa xuống máy bay chúng tôi đã phải đương đầu với mấy khuôn mặt hắc ám, nặng như chì của những nhân viên Hải quan xã hội chủ nghĩa. Tôi đang lóng ngóng vì không biết có gì trục trặc mà ông cớm này sóat giấy tờ mãi không xong. Cuối cùng hắn vứt trả lại tờ kê khai hành lý của chúng tôi và sỗ sàng phán một câu "mờ quá, viết lại tờ này đi." Tôi vội vã cầm bút đồ lại những dòng chữ của tờ khai báo, mà trong lòng bỗng dấy lên nỗi lo âu. Vì đây là lần đầu tiên chồng tôi về Việt Nam sau gần ba mươi mấy năm xa cách, lỡ có chuyện gì không hay xảy ra cho chàng thì tôi thật ân hận biết chừng nào. Sau khi hòan tất thủ tục đầu tiên, một tay hắn gạt mấy tờ kê khai có kẹp tờ 5 dollar ở phía dưới cùng một cách chuyên nghiệp vào ngăn tủ ở bên dưới, một tay ông đầy tớ nhân dân của tôi đã chỉ về phía phòng lấy hàng hóa. Chúng tôi mừng rỡ bước vội đi. Lại thêm một chặng thủ tục đầu tiên nữa ở trạm kế tiếp. Anh cán bộ trẻ đã thân mật gạt ông xã tôi sang đứng một bên vì "Anh nhà đã lâu mới về thăm nên không rõ thủ tục hãy để yên cho chị nhà làm việc …" Lấy được mấy vali hành lý ra, chúng tôi vẫn chưa hoảng hồn vì bị một đám đông các bác xe ôm, taxi, xích lô giằng kéo chào mời. Trong một rừng người láo nháo lộn xộn đó, ông xã tôi nhận ngay ra chị Đông, người chị cả khác dòng còn kẹt lại hơn năm mươi năm đất Bắc. Trên khuôn mặt đôn hậu của người chị chồng, có những đường nét hao hao giống bố chồng tôi, lộ đầy vẻ mừng rỡ. Chi cất lớn tiếng gọi chúng tôi. Các em ơi, chị Đông đây!! Chồng tôi đã lao tới và ôm chòang lấy người chị, đã xa cách nhau bao năm trời. Sau giây phút hạnh ngộ mừng tủi tủi thật nhiều xúc động không bút mực nào diễn tả hết được.

Rời khỏi sân bay Nội Bài chúng tôi trở về Hà nội trên một chiếc xe đò chở khách đặc biệt là chỉ chở có nhóm bốn người Việt kiều chúng tôi mà thôi. Lâu lắm rồi tôi mới sống lại cái cảm giác ngồi trên chuyến xe đò đi học mỗi sáng sớm hồi nhỏ của tôi ở quê nhà. Gíó hòa lẫn khói xe thổi bần bật bên ngòai cửa sổ như tăng thêm cái oi bức chói chan của mùa hè miền Bắc và tiếng động cơ ầm ầm át cả tiếng trò truyện rôm rã của chúng tôi. Xe chạy qua mấy cánh đồng lúa xanh rì, thỉnh thỏang gặp những đọan đường lổm chổm ổ gà, chiếc xe lại lắc lư kêu lên lạo xạo như ốc nhái sắp sửa bị long hết ra. Trước khi vào thành phố xe cũng phải qua một cổng trả tiền cho một đọan đường cao tốc đang được thi công dở dang . Về tới Hà Nội, tôi như chóang ngợp với sự đổi thay của một Hà Nội mới với nhà cửa, đường phố, con người. Hình như nhà cửa phố xá mọc lên như nấm với những kiến trúc thời thượng đủ kiểu, cao thấp, lớn bé, nhô ra thụt vào không theo một quy cách nào cả. Màu sắc của những ngôi nhà thì lại lôm côm, tê hại hơn vì trình độ thẩm mỹ hạn hẹp của chủ nhân, chúng làm cho Hà Nội như khóac vào một bộ mặt của cô gái nạ dòng diêm dúa điểm trang. Đó là chưa kể đến quán xá, xe cộ, bảng quảng cáo ngập những chữ nghĩa linh tinh. Đường phố Hà nội như thu nhỏ lại, vì lượng người và xe chen chúc đến chóng mặt. Ôi giờ tìm đâu được một góc thuần nhất của ba mươi sáu phố phường Hà Nội năm xưa. Thoáng tôi, cũng bắt gặp lại một vài hình ảnh cũ của cánh áo bà ba trắng, quần lĩnh đen, chiếc xe đạp đằng sau có đèo mấy mớ rau muống. Xe chạy qua hồ Hòan Kíếm, tâm hồn như chùng xuống với nước hồ thu lung linh soi bóng những hàng cây lặng lẽ đứng bên đường…

Sau mấy ngày du hành thủ đô Hà Nội, chị Đông đã hợp đồng ô tô con để đưa chúng tôi về thăm quê Thái Bình. Chúng tôi khởi hành từ sáng sớm, sau chầu cà phê sáng ở một quán cóc đầu ngả tư. Nói là quán cho có vẻ sang chứ thực ra chỉ là một túp lều được chắp vá bằng mấy tấm tôn, khách ngồi xung quanh chiếc bàn gỗ vừa nhâm nhi tách cà phê cái ly ngồi trên cái cốc, vừa có thể nhìn ngắm phố phường người xe như mắc cửi của giờ tầm.

Từ Hà Nội về Thái Bình cũng non 30 cây số, mải vui câu chuyện với mấy cậu em họ trên xe chúng tôi quên mất thời gian và chặng đường xa. Thành phố Hà Nội từ từ bị bỏ lại phía sau, hai bên đường bắt đầu xuất hiện những cánh đồng lúa xanh rì, thỉnh thỏang lại chen màu lúa chín vàng của mùa gặt đang tới. Chúng tôi bồi hồi không ít khi xe vào đến tận đầu làng Này, có phải là con đường cái quan với những vòm tre tỏa bóng mát. Có biết bao bàn chân của bao con người, bao thế hệ đã đi qua đây.

Hình như ông xã tôi đã xúc động thật nhiều. Hẳn là chàng đã xa quê từ năm 1954, ngày ấy anh chỉ mới lên 10. Con đường đê này, cậu bé con chân đi đôi guốc dong đã trượt lên, trựơt xuống bao lần khi theo mẹ đi lễ nhà thờ những sáng mờ sương, những hôm trời mùa hè mây trong vắt, cậu oắt tì vừa nhảy chân sáo, vừa nhấm nháp thử hũ rượu trắng và đĩa thịt cầy mua dùm cho ông bác họ. Về đến nhà thì mỗi thứ đã vơi đi phân nửa. Kỷ niệm này anh còn nhớ và nhắc hòai mãi đến hôm nay đã trên bốn mươi năm mới được một lần về thăm lại quê cha đất tổ.

Qua cổng làng, xe chúng tôi phải dừng lại đóng chút lệ phí để vào làng, theo đúng phép nước. Chúng tôi xuống xe và đi vào thôn xóm phía trước mặt, vẫn còn những ngôi nhà tranh vách đất chen lẫn những ngôi nhà tường vôi mái đỏ xây san sát. Hình như mỗi ngôi nhà đều có gắn liền với một mảnh vườn, một ao rau muống mọc xanh um. Chị Đông chỉ cho chúng tôi ngôi nhà cũ của gia đình chồng tôi, gió đồng nội thổi lên mát rượi. Chúng tôi đã dự định dừng chân lại lâu, nhưng bỗng dưng có một bà lạ, đầu vấn khăn mỏ quạ, răng đen mã tấu (Bắc Kỳ thứ thiệt) xuất hiện, một tay cầm cán chổi cùn, bà vừa quơ vừa cất lớn tiếng hỏi: Các ông bà ở đâu về đây mà dám đòi đất đòi nhà. Thế là chúng tôi vội trở lại xe vì, sợ gặp phải những người quá khích, sinh lắm chuyện không hay. Chị Đông hướng dẫn chúng tôi đến thăm khu mộ Tổ của dòng họ.

Xe chúng tôi tiếp tục lăn bánh và lại đi qua mấy cánh đồng lần này xe đỗ lại bên đường và chúng tôi lần mò vào khu nghĩa trang rộng lớn. Càng đi sâu vào trong, cỏ cây chằng chịt và nước ngập úng đến tận cổ chân. Cuối cùng chúng tôi cũng đã tìm thấy được khu mộ Tổ của Phí Gia tộc. Chị Đông bày trái cây, thắp hương và đốt giấy tiền mã vàng bạc. Sau đó vợ chồng tôi cùng chị, sì sụp khấn lạy Tổ tiên, mong các cụ an vui cảnh giới Phương Tây luôn phù hộ cho con cháu ở trong cũng như ngòai nước được bình yên, hạnh phúc luôn sống hay, sống đẹp để không phụ lòng mong mỏi của các bậc tiền bối.

Trời đã ngả bóng, trên đường về chúng tôi theo chị Đông ghé vào thăm nhà ông chú họ cũng ở gần đấy. Chúng tôi bước vào ngôi nhà có bàn thờ Tổ họ, với mảnh tường vôi xám cũ, còn trơ lại dấu vết của mùa lũ lụt năm trước, giữa nhà là bộ ván gõ, còn có những câu dối liễn treo trên tường đã vàng ố. Ông chú họ người tầm thước, năm nay đã cao tuổi, nhưng dáng dâp còn nhanh nhảu và cười nói vui vẻ như pháo rang khi nhắc lại các người thân quen cũvà những kỷ niệm ngày xa xưa.

Tôi bước ra vườn sau, cây trái mọc xum xuê, ở cuối vườn là những liếp rau thơm, có cả những cây ớt, cà chua sai trái đang mùa chín rộ. Con gái bác đã hạ một buồng chuối chín cây cho chúng tôi giải khát. Chuối ngọt lịm, đúng hương vị đặc biệt của chuối cau quê có khác. Sau đó chúng tôi còn được ông chú nài ép ở lại để dùng bữa cơm trưa đạm bạc với gà luộc lá chanh, bún thang Bắc thật đậm đà tình tự quê hương.

Lúc này tôi chợt nhận ra rằng người Thái Bình vẻ ngòai thật bình dị chân phương, nhưng bên trong chứa đựng nhiều tình cảm dạt dào. Thái Bình cũng là mảnh đất nổi tiếng với tinh thần đấu tranh quật khởi, dám nói dám làm. Tôi muốn nói đến phong trào nổi dậy của dân đen Thái Bình mấy năm trước. Mặc dù bị nhà nước thẳng tay đàn áp, nhưng người Thái Bình đã không hề khiếp sợ. Còn biết bao điều nữa mà tôi chưa thể nói hết được.

Tôi còn nhó mãi cái cảm giác lạ lùng, lâng lâng khi chúng tôi giã từ Thái Bình, để đi Phát Diệm, xuống phà Tân Đệ, gió thổi lồng lộng, tôi nhìn thấy dòng nước chảy xiết, sóng vỗ ì ầm vào mạn tàu. Chung quanh chúng tôi chen chúc người và xe đủ các loại - xe bé, xe to, xe đạp, xe gắn máy cả tiếng người rao hàng ing ỏi. Tôi nhìn thấy những khuôn mặt lem luốc của các em bán vé số, những bàn tay gầy gò run rẩy của những cụ già ăn mày, khổ sở… Và còn nhiều nhiều những hình ảnh của những mảnh đời đau thương khác, đã cứ đeo bám ám ảnh tôi mãi cho đến giờ. Ôi Việt Nam, quê hương tôi. Bao giờ người dân Việt mới thóat khỏi cảnh lầm than khổ đau, được sống cho ra sống. Bao giờ quê mẹ mới thật sự thái bình, ấm mo hạnh phúc.

Tất cả câu trả lời còn ở phía trước, như dòng sông ầm ầm, vang vọng mong mõi một ngày về của đàn con Việt xa xứ.